Liễu Hạnh công chúa được thờ ở đâu

Công chúa Liễu Hạnh hay còn gọi là Thánh Mẫu Liễu Hạnh là một trong những vị Thánh quan trọng trong hàng “Tứ bất tử” của tín ngưỡng dân gian Việt Nam, vậy Công chúa Liễu Hạnh là ai và lý do gì mà được nhân dân khắp nơi tôn kính phụng thờ.

Theo sử sách lưu chép, Công chúa Liễu Hạnh vốn là con gái thứ hai của Đức Vua Cha Ngọc Hoàng Thượng Đế, do trong tiệc bàn đào lỡ tay đánh rơi chén ngọc nên bị giáng xuống trần vào thời nhà Lê. Với ba lần tam sinh tam hóa hộ quốc phù đời, Thánh Mẫu Liễu Hạnh được nhiều các triều đại vua ban sắc phong với nhiều mỹ tự đẹp nhất.

Liễu Hạnh công chúa được thờ ở đâu

Lần giáng sinh thứ nhất của Công chúa Liễu Hạnh.

Tiên Chúa phụng mệnh giáng sinh làm con gái một nhà họ Phạm tại làng Vỉ Nhuế, thôn Quảng Cung, phủ Nghĩa Hưng trấn Sơn Nam. Thân phụ và thân mẫu của Tiên chúa đều là những người hiền lành, có phúc đức tích đức, mặc dù tuổi đã xế chiều mà họ vẫn chưa có con. Đức Ngọc Hoàng động tâm, hạ truyền Đệ nhị Tiên nương tức Công Chúa Liễu Hạnh giáng trần làm con họ rồi sẽ trở về khi mãn hạn.

Truyện kể rằng, vào một đêm trăng nọ, Phạm Thái ông được tiên báo mộng sẽ sớm có con gái đầu lòng. Quả nhiên, ít lâu sau, Thái bà mang thai rồi hạ sinh một bé gái vô cùng xinh đẹp đặt tên là Phạm Tiên Nga, thấm thoát tiên chúa lớn lên ngày càng xinh đẹp, giỏi giang và hết mực thảo hiền với cha mẹ. Vào năm Giáp Thân niên hiệu vua Lê Thánh Tông Quang Thuận ngũ niên tức năm 1464, Phạm Thái ông và Phạm Thái bà đều lần lượt qua đời. Một thân Đức Tiên chúa lo lắng mồ yên mả đẹp, cầu nguyện cho vong linh cho cha mẹ rồi lên đường chu du khắp thiên hạ làm phước thiện cho đồng dân, từ việc đắp đê ngăn lũ, dựng chùa lập miếu, bố thí cho tất cả bốn phương dân cùng,…

Năm Tiên chúa vừa tròn 40 tuổi thì hết thời gian ở hạ giới, ngài hóa thần về trời, khi đó là giờ dần ngày 2 tháng 3 năm 1473. Để tưởng nhớ công đức của Tiên chúa, nhân dân xây hai ngôi đền để thờ phụng tại nền ngôi nhà cũ thời thơ ấu của Tiên Chúa, hai là Phủ Quảng Cung tại quê mẹ của nàng.

Lần giáng sinh thứ hai của Công chúa Liễu Hạnh

Khi về thiên đình, Tiên Chúa vẫn không ngừng nỗi nhớ cha mẹ trần thế và vùng đất Nghĩa Hưng. Một lần nọ trong tiệc bàn đào, Tiên Chúa lỡ tay đánh rơi chén ngọc, Ngọc Hoàng thất ý trích giáng Tiên chúa xuống trần. Năm đó là năm Lê Thiên Hựu Định Tỵ  nguyên niên (1557). Trong lần này, Tiên chúa giáng sinh vào nhà họ Lê ở làng An Thái, huyện Thiên Bản, phủ Nghĩa Hưng, Nam Định. Khi đó vào lúc Lê Thái bà đã quá ngày sinh  sinh nở mà vẫn chưa hạ sinh. Một đêm nọ trong lúc nửa mê nửa tỉnh, Thái Ông mợ thấy mình được dự tiệc trên Thiên đình, khi đó được báo rằng có một cô gái bị Ngọc Hoàng trích giáng. Lúc tỉnh dậy đã thấy Thái bà hạ sinh con gái, Thái ông liền đặt tên Lê Thị Thắng, hiệu là Giáng Tiên. Tiên chúa lớn lên xinh đẹp hơn người thường, tài nghệ xuất trúng. Khi tròn 18 tuổi, Tiên chúa được hứa hôn cùng với Trần Đào Lang. Để làm tròn bổn phận chữ hiếu, Tiên chúa đã chấp nhận kết duyên nhưng chưa được bao lâu, đến năm 21 tuổi thì Tiên chúa không bệnh mà mất, khi đó hết hạn được về trời vào giờ dần ngày 3 tháng 3 năm Đinh Sửu, triều vua Lê Thế Tôn (1577). Khi Tiên chúa về trời, thân mẫu thương xót cùng nhân dân an táng chu toàn, và được xây dựng đền thờ và lăng mộ tại Phủ Dầy Nam Định.

Lần giáng sinh thứ 3 của Công Chúa Liễu Hạnh

Mặc dù Tiên Chúa về trời nhưng lòng trân chưa mãn khôn nguôn, luôn u sầu khiến  Ngọc Hoàng động lòng ban sắc phong “Liễu Hạnh công chúa” cho phép trắc giáng dương gian để tự diêu tự thích khỏi nỗi u sầu. Khi đó vào năm Kỷ Mão niên hiệu Quang Hưng năm 1579, Tiên chúa khi đó lúc ẩn lúc hiện về thăm quê hương hai lần nữa rồi ngao du thiên hạ, tiêu diêu vào miền Nga Sơn, Thanh Hóa để tái hợp cùng Mai Sinh hậu kiếp của Trần Đào Lang khi đó vào năm 1609. Tuy vậy, cũng chỉ được hơn một năm thì Tiên Chúa mãn hạn phụng mệnh về trời.

Sau khi giáng hạ đủ ba lần, Thánh Mẫu Liễu Hạnh ở lại Thiên cung mà trong lòng vẫn canh cánh nỗi nhớ với nơi trần thế. Hiểu được nỗi lòng của con gái, Ngọc Hoàng cho phép Tiên Chúa được giáng hạ thế bất thường lần nữa để hóa phép phù đời, miễn vòng sinh tử luân hồi. Trong lần này Tiên chúa xuất hiện dưới hình hài của một tiên nữ, đi cùng hai tiểu tiên khác, giáng hiện xuống  vùng Phố Cát, Thanh Hóa, Tiên chúa khi đó dùng nhiều loại phép tiên huyền ảo giúp dân giúp nước, giác ngộ Phật Pháp và đắc đạo thành Mạ Vàng Bồ Tát. Cũng vì giúp dân giúp nước với nhiều công lao to lớn, Tiên chúa được triều đình và nhân dân lập đền thờ ở nơi giáng trần ngày nay là đền Sòng, Thanh Hóa.

Dù giáng trần tại nhiều nơi gắn liền với nhiều sự tích, câu chuyện tâm linh vì vậy nơi thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh được nhân dân xây dựng ở rất nhiều nơi như đền, điện, phủ để bày tỏ công ơn và tổ chức nhiều lễ hội để suy tôn hàng năm. Trong đó, tiêu biểu là những di tích Phủ Dầy Nam Định nơi gắn liền với hai lần Tiên chúa giáng hạ.

Hằng năm, cứ vào dịp tháng 3 âm lịch, tại khu di tích lịch sử văn hóa Phủ Dầy với trên 20 di tích phủ, lăng, đền điện,chùa thờ Thánh Mẫu lại mở cửa tổ chức lễ hội đón hàng ngàn con nhang đệ tử, du khách thập phương  về chiêm bái, dâng hương tưởng nhớ Thánh Mẫu linh thiêng, thỉnh cầu thánh Mẫu phù hộ độ trì cho gia trung được trong ấm ngoài êm, năm mới thuận lợi, cát khánh vạn sự bình an, thân tâm an lạc.

>>>> Đọc thêm: Thánh Mẫu Liễu Hạnh một trong bốn vị thánh Tứ bất tử của tín ngưỡng dân gian Việt Nam – Phu Day Festival

>>> Nhấn Subscribe để theo dõi các video về Phủ Dầy Nam Định tại kênh: Phủ Dầy Nam Định Official

Đền thờ thánh mẫu Liễu Hạnh là một điểm đến du lịch tâm linh nổi tiếng của Quảng Bình. Từ đỉnh Đèo Ngang theo quốc lộ 1A đi về hướng Nam khoảng 2km, rẽ trái theo con đường mòn gần 500m, ta sẽ tới đền thánh mẫu Liễu Hạnh.

Đền nằm dưới chân núi Đèo Ngang, ở một khu đất khá bằng phẳng, sát đường thiên lý Bắc – Nam trước đây, phía sau đền là dãy Hoành Sơn, ngay trước mặt là hồ nước ngọt của xã Quảng Đông, mặt đền quay hướng Nam cũng là hướng biển.

Liễu Hạnh công chúa được thờ ở đâu
Đền thờ thánh mẫu Liễu Hạnh nằm dưới chân Đèo Ngang về phía địa phận Quảng Bình

Trong tín ngưỡng dân gian của người Việt cũng như một số dân tộc anh em, việc tôn thờ nữ thần, thờ Mẫu là một hiện tượng khá phổ biến và có căn nguyên lịch sử xã hội sâu xa.

Việc coi trọng phụ nữ, coi trọng vai trò người mẹ, người vợ ở nước ta, một truyền thống rất đẹp và có sức sống mãnh liệt của văn hóa dân gian. Chính là cơ sở chính trị và xã hội, cơ sở tinh thần và tâm linh, đã hình thành và phát triển tục thờ nữ thần, tục thờ các bà mẹ, các Mẫu, một tục có từ thời Văn Lang, Âu Lạc và còn truyền lại cho đến ngày nay, chính là tục thờ thần của người Việt cổ.

Đền thờ Thánh mẫu Liễu Hạnh ở Đèo Ngang, Quảng Bình vừa có sự tích riêng, vừa là hình tượng Mẫu Liễu Hạnh chung trong đời sống tâm linh của nhân dân ta.

Liễu Hạnh công chúa được thờ ở đâu
Tượng Thánh Mẫu Liễu Hạnh

Vì vậy, theo sách kho tàng truyện cổ tích Việt Nam tập IV – của Nguyễn Đổng Chi kể rằng: ’’Ngày xưa ở trên Thiên Đình, Ngọc Hoàng có một cô con gái tên là Liễu Hạnh, tính tình phóng túng, ngang bướng, không chịu theo khuôn phép nhà Trời. Ngọc Hoàng hết lòng dạy dỗ nhưng vô ích, cô vẫn chứng nào tật ấy. Giận vì trong nhà có con gái hư, không thể làm gương cho muôn họ. Ngọc Hoàng quyết định trị tội để cho con tu tỉnh.

Nhân một lần Liễu Hạnh phạm lỗi, Ngọc Hoàng liền đày xuống trần trong thời hạn ba năm. Sau khi xuống trần, Mẫu Liễu Hạnh hóa thân thành một cô gái xinh đẹp, dựng một lều quán ở chân núi Đèo Ngang. Đây là nơi rừng núi vắng vẻ nhưng cũng là nơi có con đường Thiên lý Bắc – Nam vắt qua nên hằng ngày không bao giờ ngớt khách bộ hành qua lại. Từ xưa đến nay, vì sợ giặc cướp và thú dữ, không một ai dám đến đó mở quán bán hàng. Vì vậy ngôi làng độc nhất của Liễu Hạnh ngày nào cũng đông khách.

Bất kỳ ai lên xuống Đèo, đã đi qua quán, không thể không ghé đến nghỉ chân. Huống gì trong quán lại có thêm cô gái tuyệt sắc.

Từ khi bị đày, Liễu Hạnh vẫn chưa từ bỏ được nết cũ, khinh mạn và trêu chọc mọi người. Cho nên, hễ ai vào quán ăn bánh uống nước rồi tiếp tục ra đi thì không sao. Nhưng nếu thấy chủ quán xinh đẹp mà giở thói cợt nhã hoặc có ý cậy sức, cậy thế cậy thần làm điều bất chính thì nàng quyết trị tội, không tha. Lúc trở về không lăn ra chết cũng trở thành điên rồ ngây dại.

Liễu Hạnh công chúa được thờ ở đâu
Cổng đền thờ Thánh mẫu Liễu Hạnh

Hồi ấy là thời Vua Lê Thái Tổ trị vì thiên hạ, tiếng đồn về người con gái đẹp một mình mở quán ở Đèo Ngang, không mấy chốc đã lan truyền rất rộng. Khắp nơi bàn tán xôn xao, người thì nói chủ quán là một cô gái võ nghệ hơn đời, mình nàng địch nổi trăm người một lúc; kẻ thì cho nàng là một ả giang hồ thành thạo, không những giỏi quyến rũ trai tơ mà còn làm nhiều nghề không lương thiện khác cũng có người cho cô là một nàng tiên xuống thử người phàm trần. Mỗi người nói một phách, không biết thế nào mà tin. Nhưng tiếng đồn gần xa về cô chủ quán Đèo Ngang cũng thu hút vô số chàng trai vô công rồi nghề từ làng quê đến kẻ chợ.

Hoàng tử con vua Lê bấy giờ đang trẻ người non dạ, nghe tin ấy bụng cũng say mê. Hoàng Tử muốn sai quân lính đi bắt ngay người con gái kia về nhưng vốn biết tính vua cha rất nghiêm khắc, làm náo động cả một phương là chuyện không bao giờ nhà vua cho phép; vả lại, nghe nói người con gái ấy đã giỏi võ nghệ lại có nhiều phép thuật nên cũng ngần ngại. Sau cùng, không ngăn nổi lòng ao ước và tính tò mò. Một hôm, Hoàng tử giấu Vua cha và Hoàng Hậu, sắm sửa cáng xá hành lý, đóng vai một nhà quý tộc trẻ tuổi, dẫn đoàn thị vệ cải trang ra đi. Sau hơn mười mấy ngày đường, vượt qua Sông Lam rồi núi Nam Giới, Hoàng tử sắp bước chân lên dãy đèo cao nhất.

Từ Đèo Ngang, Thánh mẫu Liễu Hạnh đã biết có Hoàng tử đến tìm mình, lại cũng biết đó là chàng trai tầm thường, không có bản lĩnh gì mà lại kiêu căng, dật lạc. Để ngăn cản, nàng hóa phép thành một cây đào tiên mọc bên vệ đường, chỗ Hoàng tử đang nghỉ chân, trên cây có một quả chín mộng. Hoàng tử chợt thấy quả đào đã thèm nhỏ dãi, không đợi sai lính hầu vội trèo lên ngắt xuống toan ăn.

Quả đào đang thơm ngát và ngon lành, bỗng đâu khi sắp đưa vào miệng thì trở nên mềm nhũn trên tay Hoàng tử, rồi thu nhỏ, cuối cùng mất biến không còn tý gì nữa. ’’Quả đào này có ma! ’’ – bọn thị vệ kinh hãi la lên và khuyên Hoàng tử hãy nên cẩn thận. Hoàng tử cảm thấy rờn rợn nhưng vì vẫn không thấy được ý nghĩa răn đe kín đáo của Liễu Hạnh nên một lúc sau, chàng lại giục phu cáng, tiếp tục đi nhanh đến chân đèo.

Khi giáp mặt Mẫu Liễu Hạnh, quả nhiên cả thầy lẫn tớ thảng thốt sửng sờ. Chưa bao giờ Hoàng tử lại mê mẩn đến như thế, người con gái này quả có nhan sắc kiều diễm đúng như lời đồn, trong cung vua cha dễ không một người nào sánh kịp. Hoàng tử bèn kín đáo hạ lệnh cho cả đoàn dừng chân ở quán, lân la hết ăn lại uống, kéo dài đến tận chiều, rồi khi mặt trời gần lặn, bảo với chủ nhân:

“Đường xa trời tối, chúng ta muốn nghỉ lại ở đây một đêm. Chẳng hay nữ chủ nhân có bằng lòng không?

Mẫu Liễu Hạnh đã thừa rõ tâm tư của Hoàng tử bèn khước từ:

– Thưa công tử, ở đây hàng quán chật chội, vả lại chỉ có mấy chị em là đàn bà con gái, công tử và các vị ở lại sợ không tiện. Cách đây nửa dặm về phía Đông có làng xóm, xin các vị đến đó trú, sẽ có sẵn nhà cửa và dân phu phục dịch.

– Chúng tôi chỉ cần nghỉ ở lại đây thôi, nữ chủ nhân đừng lo. Chỉ cần một chỗ trong quán để căng màn là đủ. Ngoài ra, xin hứa là không làm gì phiền đến nữ chủ nhân cả.

– Nếu thế công tử cứ tùy tiện.

Tối đến, mọi người ăn cơm xong, sửa soạn đi ngủ, những phu cáng và lính hầu trải chiếu nằm la liệt giữa sân, riêng Hoàng tử đã có hai thị vệ căng trướng ở trong quán. Trời mùa hè mát mẻ trăng gió hữu tình. Dưới ánh đèn dầu, Hoàng tử vẫn dựa cột trò chuyện với nữ chủ quán không rời. Liễu Hạnh vẫn chịu khó ngồi nán lại tiếp, mỗi lời nói của nàng đều đẹp lòng khách, làm cho Hoàng tử càng thêm mê mẩn.

Chàng quên mất lời hứa, đánh rơi cả vẻ đạo mạo lúc mới tới và bắt đầu lả lơi. Liễu Hạnh cự tuyệt và bỏ chạy vào buồng. Trong cơn si mê, Hoàng tử không cần giữ thể diện nữa, bèn chạy theo vào. Có ngờ đâu chỉ trong nháy mắt, Liễu Hạnh đã biến hình phi thân lên núi, bắt một con khỉ cái về, cho hóa thành một cô gái đẹp để đánh lừa Hoàng tử. Không thấy chủ quán đâu nhưng lại có một cô gái khác trong buồng, Hoàng tử liền giở trò suồng sã.

Liễu Hạnh công chúa được thờ ở đâu
Đền thờ Thánh mẫu Liễu hạnh dưới chân núi đèo Ngang

Nhưng bỗng chốc hắn rú lên một cách ghê sợ làm cho bọn lính hầu đều tỉnh dậy, trong tay Hoàng tử không phải là một cô gái nõn nà nữa mà lại là một con khỉ cái, lông lá đầy người. Bọn lính hầu xông lại, vụt một cái, con khỉ lại biến thành một con rắn mang hoa trên người Hoàng tử vươn lên kèo nhà, há miệng phun lửa phì phì, rồi biến mất. Khi bọn lính hầu thắp được đèn lên thì Hoàng tử đã ngã vật giữa quán, nằm mê man, mặt cắt không còn một giọt máu.

Nửa đêm hôm đó, người ta cắt ngựa trạm đưa Hoàng tử về Kinh. Đến cung Hoàng tử trở nên mất trí, ai hỏi cũng không trả lời, chỉ cười nói một mình. Hoàng Hậu và các phi Thần hết sức lo sợ; một mặt cho giấu kín chuyện ’’vi hành’’ khinh suất đó, đồng thời cho người mời các bậc danh y để chửa trị cho Hoàng tử. Mặc dù vậy, các danh y đều lắc đầu bó tay. Trong cung càng thêm bối rối hoảng hốt và cuối cùng, có người mách nên vào xứ Thanh xin bùa phép ở tám vị Kim Cang họa may mới khỏi…

Lập tức bọn thị vệ được lệnh vua vào Thanh Hóa để xin bùa phép. Nhờ đó, bệnh tình của Hoàng tử mới dần dần được thuyên giảm. Sau khi bình phục, Hoàng tử cúi đầu nhận tội với vua cha, kể lại cho vua cha nghe mọi chuyện với nữ chủ quán ở Đèo Ngang.

Vua Thái Tổ hết sức giận dữ vì Hoàng tử đã dám khinh thường lệnh vua, rời phủ đi chơi, hãm mình vào cảnh thân tàn ma dại nên phế bỏ ngôi vị Thái tử của Hoàng tử lập người con thứ lên thay. Nhưng nhà vua còn tức giận hơn bởi trên bờ cõi mình trị vì, lại có một người con gái dám khinh thường phép nước, vua bèn ban lệnh hỏi quan trấn thủ xứ Nghệ về lai lịch nữ chủ quán Đèo Ngang. Sau một thời gian cất công dò la, quan Trấn thủ gửi sớ về tâu rằng đó là một nữ yêu không biết từ đâu đến, hay bắt hồn đàn ông con trai, nếu không có phép cả tài cao thì khó lòng khuất phục.

Nhà vua lại ra lệnh cho mời các pháp sư, thầy phù thủy cao tay đi trừ yêu nhưng chẳng bao lâu, họ đã trở về xin chịu tội vì chẳng những không trị nổi yêu quái mà ngược lại mọi phép trổ ra đều bị Liễu Hạnh thu mất cả. Vua lại cầu cứu tám vị Kim Cang phi thân vào Đèo Ngang. Được tin chẳng lành, Liễu Hạnh liền ra ứng chiến và cuộc chiến đấu dần dần trở nên dữ dội, mưa dồn gió giật rất khủng khiếp, cây đổ khắp lượt, tám vị Kim Cang tràn vào, vây lấy Đèo Ngang.

Thánh mẫu Liễu Hạnh cũng hóa phép chống lại, nàng làm cho cây rừng đã đổ rồi đứng dậy cùng với đất đá bay rào rào. Thấy Liễu Hạnh pháp thuật cao cường, tám vị Kim Cang lại hóa phép làm cho thú dữ tập hợp lại, nhe nanh múa vuốt xông vào hàng đoàn toan cắn xé, nhưng Liễu Hạnh đã kịp thời bay lên không trung rồi dùng phép tiêu diệt hết bầy mãnh thú.

Trận đánh diễn ra ba ngày đêm, Đèo Ngang trở thành một bãi chiến trường rùng rợn và vô cùng ác liệt. Mọi phép thuật của cả hai bên lần lượt giở ra mà vẫn bất phân thắng bại. Về sau, tám vị Kim Cang biết mình bất lực bèn bay lên Trời khẩn cầu Phật Bà. Phật Bà ném cho họ một cái túi, quả nhiên Liễu Hạnh sa lưới, lọt vào túi đó. Tám vị Kim Cang mang túi về kinh báo tiệp, vua lập tức ra sân điện tra hỏi:

– Người là ai?

– Tâu bệ hạ, là con Ngọc Hoàng bị đày xuống cõi trần, lấy vùng Đèo Ngang làm nơi trú ngụ.

– Là con ngọc Hoàng sao lại dám phá phách dân sự và làm hại Hoàng tử con ta?

– Việc trừng trị bọn con trai chọc ghẹo nhi nữ, ăn hiếp người cô đơn là tuân theo phép nước, không phải là phạm phép nước.

Nghe Liễu Hạnh nói là con gái Ngọc Hoàng, lại thấy tài đối đáp khôn ngoan, vua đổi giận làm vui cho nên sau cuộc thẩm vấn, vua hạ lệnh tha bổng, chỉ khuyên nàng đừng gây náo động và làm hại dân lành’’.

Qua truyền thuyết dân gian về công chúa Liễu Hạnh, chúng ta thấy đó là một niềm tin và sự cầu mong về một lẽ công bằng của nhân dân. Hay có thể nói ngược lại: Chính niềm tin và sự cầu mong ấy là tiền đề để nảy sinh ra một câu chuyện thần kỳ tức là câu chuyện về công chúa Liễu Hạnh. Con đường để hình thành truyền thuyết về Đức Thánh Mẫu cũng là những con đường đã hình thành nên truyền thuyết về các vị thánh và các vị linh thần khác. Đó là con đường của sáng tác dân gian hoặc con đường dân gian hóa những tác giả, những tác phẩm cụ thể…

Thánh mẫu Liễu Hạnh đã để lại một hình ảnh mẫu mực xứng đáng là tấm gương và cái đích cần vươn tới của các thế hệ phụ nữ Việt Nam.

Liễu Hạnh công chúa được thờ ở đâu
Kiến trúc của đền mang đậm truyền thống mỹ quan Á Đông

Đền thánh mẫu Liễu Hạnh công chúa ở Đèo Ngang có diện tích khoảng 335m2. Từ đường thiên lý Bắc – Nam đi vào, lần lượt qua cổng đền, bức bình phong, cổng Tam quan, hai trụ đầu lân trước điện thờ, đền Tiền, đền Hậu.

Nhìn tổng thể kiến trúc của đền, chúng ta thấy đây là một công trình kiến trúc tuy nhỏ, được xây dựng bằng đá, gạch, vôi nhưng vẫn mang truyền thống mỹ quan Á Đông và bảo lưu được bản sắc văn hóa dân tộc. Điều này được thể hiện qua kết cấu cổng tam quan được bố trí một cách đối xứng, cân đối và hài hòa, sự cân xứng và đăng đối, hài hòa ở đây là nói lên sự trung chính, ngay thẳng và cũng là ước mơ của con người. Mặt khác, lối cấu trúc cân xứng, đăng đối và hài hòa đó còn tạo ra vẽ đẹp cho kiến trúc, nghệ thuật và thể hiện sự trang nghiêm của cả công trình kiến trúc đền.

Liễu Hạnh công chúa được thờ ở đâu
Khu vực thờ bà Thánh Mẫu Liễu Hạnh

Nhìn tổng quan, chúng ta có thể thấy được sự tài hoa về kỹ thuật xây dựng, về hội họa, tài ghép sành sứ của con người ở đây. Chủ đề trang trí với đền thường gắn liền với những quan niệm, tư tưởng và những ước mơ hoài vọng tốt đẹp của xã hội phong kiến Việt Nam nói riêng và cư dân văn minh nông nghiệp lúa nước phương Đông nói chung. Đó là các hình tượng như Tứ Linh (long, lân, quy, phụng), tứ thủ (cầm, kỳ, thi, họa), tứ quý (tùng, trúc, mai, sen) và nhiều biểu tượng cúc hóa long, mai hóa long, tùng hóa long…

Đặc biệt, nhìn vào bố cục kiến trúc của đền được sắp xếp theo thứ tự từ thấp đến cao theo một trục dọc, cân đối và đăng đối, chính bố cục này đã làm thêm phần trang nghiêm của đền thờ thánh mẫu Liễu Hạnh công chúa.

Đền Liễu Hạnh công chúa ở Đèo Ngang nằm trong cụm di tích – danh thắng Đèo Ngang (Hoành Sơn Quan, lũy Hoàn Vương, đình Vĩnh Sơn, Hòn La…). Đây là cụm di tích còn tiềm ẩn nhiều khả năng trong việc phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh nhà.

Đền thờ Liễu Hạnh công chúa ở Đèo Ngang là điểm thờ Mẫu ở Quảng Bình và trở thành một hình thức sinh hoạt tín ngưỡng văn hóa cộng đồng đối với nhân dân Quảng Bình nói riêng và nhân dân cả nước nói chung.

Liễu Hạnh công chúa được thờ ở đâu
Phong cảnh hữu tình của đền thờ

Đền thờ thánh mẫu Liễu Hạnh công chúa ở Đèo Ngang là điểm cuối phía Nam còn nguyên vẹn về kiến trúc đền thờ Mẫu Liễu Hạnh như tục thờ Mẫu ở Phủ Giầy. Đền thờ như một minh chứng cho sự tích Liễu Hạnh công chúa ở Đèo Ngang, trong truyền thuyết dân gian đã có từ lâu đời. Chính vì vậy, di tích đền Liễu Hạnh công chúa ở Đèo Ngang, xét về quy mô, phong cách và vị trí của nó trong lịch sử phát triển của dòng tín ngưỡng dân gian Việt rất xứng đáng để chúng ta trân trọng, bảo tồn.

Hiện nay Đền Thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh là điểm đến tâm linh ý nghĩa của Du lịch Quảng Bình. 

Liễu Hạnh công chúa được thờ ở đâu
Đền thờ linh thiêng thu hút đông đảo du khách đến tham quan và chiêm bái

Quý khách có thể tham khảo tour du lịch Quảng Bình Đền Thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh kết hợp với các danh lam thắng cảnh gần đó như Vũng Chùa Đảo Yến, Đèo Ngang vô cùng hấp dẫn của Công ty du lịch Netin được thực hiện bởi hướng dẫn viên địa phương am hiểu địa phương.

Netin Travel