Khó khăn của ngành dịch vụ logistics

(VLR) Nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của dịch COVID-19 đối với hoạt động của doanh nghiệp ngành logistics, vừa qua, Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA) đã tiến hành khảo sát, lấy ý kiến của các doanh nghiệp về những khó khăn, thiệt hại mà doanh nghiệp đang gặp phải. Theo đó, hầu hết các doanh nghiệp được khảo sát đều đang bị ảnh hưởng khá nặng nề, doanh thu trung bình giảm từ 10% - 30% so với cùng kỳ năm 2019.

COVID-19, Doanh nghiệp khó tránh khỏi thiệt hại

Khó khăn của ngành dịch vụ logistics

Dịch bệnh COVID-19 đã có tác động ở tất cả các mặt từ y tế, giao thông, du lịch, giáo dục, thương mại... Đối với lĩnh vực thương mại, Việt Nam không chỉ bị ảnh hưởng trong quan hệ thương mại trực tiếp với Trung Quốc mà cả trên các thị trường thứ ba, từ xuất khẩu, nhập khẩu, thương mại biên giới cho đến thương mại nội địa, sản xuất công nghiệp, quản lý chuỗi cung ứng.

Theo báo cáo của VLA, có khoảng 15% DN bị giảm 50% doanh thu so với năm 2019 và hơn 50% DN giảm số lượng dịch vụ logistics trong nước và quốc tế từ 10% - 30% so với cùng kỳ năm ngoái.

Theo đánh giá của VLA, do nhiều nhà máy phải tạm ngưng hoạt động nên lượng hàng hóa cần lưu chuyển ít đi dẫn đến việc vận chuyển và giao nhận hàng hóa trong chuỗi cung ứng cũng giảm, ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải logistics. Bên cạnh đó, DN cũng bị giảm nguồn thu đáng kể đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu từ các nước có dịch như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore,...

Ngoài ra, trong tình hình dịch bệnh như hiện nay các DN thiếu hụt nguồn nguyên liệu để sản xuất và khó tìm đầu ra cho sản phẩm tại vực châu Á và một số khu vực khác, gây ra tình trạng sản xuất dư thừa, không xuất khẩu được.

Các hoạt động logistics như vận tải giảm do dịch vụ thông quan bị cản trở, dịch vụ kho bãi, cước cũng bị ảnh hưởng nặng. Cửa khẩu Trung Quốc vốn đã thường xuyên bị quá tải, nay do ảnh hưởng dịch nên phát sinh lưu xe, việc xuất nhập khẩu ở các cửa khẩu trở nên phức tạp và mất thời gian hơn. Từ đó, dẫn đến tình trạng hàng hóa dễ hư hỏng bị giảm chất lượng, lái xe không muốn bị rắc rối, chậm trễ nên thường từ chối vận chuyển, ảnh hưởng đến tiến độ giao hàng. Một số vấn đề phát sinh khác như một số khách hàng Trung Quốc gặp khó khăn về tài chính dẫn đến mất khả năng trả nợ cho chủ hàng, nhà cung cấp Việt Nam kéo theo việc chủ hàng chậm thanh toán cho doanh nghiệp logistics.

DN logistics gặp khó từ các hãng tàu và hãng hàng không

Hãng tàu

Các tuyến chủ yếu là từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, các hãng tàu như ONE, HMM và một số hãng tàu khác đều giảm tàu nối tất cả các tuyến, ảnh hưởng đến lịch xuất hàng và chất lượng dịch vụ. Hầu hết hàng nhập trên các tuyến về Việt Nam giảm mạnh, một số thị trường khác bị kiểm dịch gắt gao. Các thủ tục vận hành từ thị trường khu vực châu Á và một số khu vực khác chậm trễ hơn so với bình thường.

Giảm chuyến do sản lượng luân chuyển chung giảm, nên việc vận chuyển trở nên thất thường khi lịch thường xuyên thay đổi không thông báo trước và ảnh hưởng tới kế hoạch kinh doanh của khách hàng, gây mất uy tín cho công ty cung cấp dịch vụ, làm tăng thời gian xử lý các vấn đề phát sinh cũng như gây căng thẳng áp lực cho nhân sự khi xử lý các vấn đề trên.

Hãng hàng không

Theo khảo sát của VLA, các hãng hàng không hiện nay đều hủy các tuyến bay tới Trung Quốc, Hàn Quốc, Hồng Kông, CZ-DLC cắt giảm tuyến, SNG-HKG, hạn chế tối đa các chuyến bay từ vùng dịch. Ngoài ra, giá cước vận chuyển hàng hóa tăng cao hơn so với bình thường.

Vận tải đường bộ

Hiện nay, các tuyến biên giới đều khó để kiếm được nhà cung cấp vận chuyển. Lượng hàng giảm dẫn đến nhu cầu về vận tải đường bộ giảm khoảng 30%.

VLA đề xuất, kiến nghị hỗ trợ doanh nghiệp logistics

Khó khăn của ngành dịch vụ logistics

Để giải quyết những vấn đề trước mắt

Trước những diễn biến phức tạp như hiện nay, VLA đã tổng hợp và đưa ra một số các kiến nghị, đề xuất nhằm hỗ trợ doanh nghiệp logistics, cũng như duy trì phát triển nền kinh tế - xã hội. Cụ thể như giãn, hoãn, đề xuất miễn, giảm có thời hạn các khoản thuế và phí phải nộp của DN ở những ngành, lĩnh vực chịu nhiều ảnh hưởng (thu nhập doanh nghiệp, giá trị gia tăng, phí BHXN).

Bên cạnh đó, VLA cũng đề xuất Chính phủ cung cấp thông tin kịp thời, chính xác cho doanh nghiệp về tình hình diễn biến dịch bệnh và kịch bản kinh tế của Chính phủ; Cung cấp khẩu trang chống dịch cho doanh nghiệp nếu diễn biến tình hình dịch bệnh phức tạp hơn. Ngoài ra, Chính phủ nên làm việc với các hãng vận tải, hãng tàu nhằm giảm giá dịch vụ vận chuyển hàng hóa, giảm phí dịch vụ tại cảng để giảm chi phí lưu thông hàng hóa, góp phần hỗ trợ DN sản xuất và DN Logistics. Kiểm soát được giá, không tăng giá quá cao, đặc biệt là phí LSS, LSS tăng theo quý, nhưng hiện tại hãng tàu đang tăng theo tháng.

Các cơ quan liên quan triển khai công tác đảm bảo chống dịch ở các cửa khẩu đường bộ, cảng biển theo hướng tạo thuận lợi cho doanh nghiệp. Phối hợp với các tỉnh biên giới phía Bắc bố trí lực lượng chức năng phân luồng, phân tuyến tại đường bộ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hóa phương tiện được lưu thông thông tốt nhất.

Nhằm hỗ trợ DN, VLA cũng đề nghị giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp cho năm 2020, Khoản thuế giảm này xem như một phần để hỗ trợ DN vượt qua khó khăn kinh doanh năm 2020. Giãn hoãn và giảm các khoản đóng góp Quỹ Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp, Bảo hiểm y tế từ các DN bị ảnh hưởng.

Ngân hàng Nhà nước cần xem xét giảm lãi suất cơ bản. Các ngân hàng thương mại cần khoanh nợ, giãn nợ, giảm lãi suất cho vay, mở rộng hạn mức cho vay, cơ cấu lại các khoản vay đối với các DN trong các lĩnh vực bị tác động mạnh từ dịch COVID-19 như du lịch, dịch vụ, xuất khẩu nông sản, vận tải, dệt may, giày dép…

Đối với các DN kho lạnh, kho mát cần được ưu đãi về giá điện dùng (hiện nay giá cao hơn giá điện sản xuất từ 25%-30%). Ưu đãi thuế (như giảm thuế, không phạt chậm nộp thuế…) cho các chuỗi nhà hàng, khách sạn, cung ứng thực phẩm. Giãn tiến độ nộp, giảm tiền thuê đất và mặt bằng sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp chịu ảnh hưởng nhiều từ dịch.

Trong trường hợp dịch bệnh kéo dài

Nếu tình hình dịch bệnh còn kéo dài, Chính phủ có thể xem xét đẩy mạnh đầu tư công cho toàn bộ nền kinh tế, và nói riêng là đầu tư cơ sở hạ tầng, thiết bị cho ngành Hải quan, giảm thiểu việc thao tác thủ công. Nâng cao năng lực cho các cụm cảng hàng không, cảng biển và các bãi chuyển tải tại các cửa khẩu biên giới.

Thống nhất danh mục hàng hóa, mã HS cho phù hợp với các nước khác nhất là khối EU. Việc này giúp cho các DN tránh được việc lúng túng khi áp mã thuế và cơ quan quản lý nhà nước kiểm soát được việc kê khai thống nhất .

Có cơ chế, tạo điều kiện thông thoáng hơn nữa cho thủ tục XNK phù hợp với điều kiện thực tế cho từng thời kỳ ngắn hạn và dài hạn, rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa. Hỗ trợ các nhà máy đẩy nhanh được lưu thông quan hàng hóa nhằm tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp và xã hội.

Tăng tiến độ và thời gian cấp giấy phép chuyên ngành, giảm bớt thời gian thông quan và kiểm hóa tại cảng để giải phóng hàng tránh phí lưu kho bãi.

Chính phủ rà soát các loại thuế, phí, có các giải pháp hỗ trợ giảm chi phí vận tải như giảm giá BOT, phí cầu đường, bến bãi, phí lưu giữ Phương tiện, thuế với nhiên liệu bay…

Tạo điều kiện cho DN trong vấn đề cấp CO để doanh nghiệp đủ điều kiện hưởng ưu đãi thuế khi xuất khẩu sang thị trường EU và Ấn độ theo hiệp định EVFTA. Xem xét và duyệt cho nợ C/O sau 30 ngày vì tình trạng dịch bệnh tại Trung Quốc.

Chính phủ hỗ trợ DN thông qua kênh xúc tiến thương mại. Tăng cường thương mại điện tử, sàn giao dịch online, thanh toán online.

Vận tải hàng hóa đường bộ, đường sắt, Việt Nam hiện nay kết nối với Trung Quốc rất lớn, do đó đề xuất Chính phủ chỉ đạo, tập trung tăng cường khai thác nội địa, đồng thời mở rộng kết nối với các nước còn lại trong khu vực ASEAN qua Thái Lan để giúp vận tải đường bộ có thể bù đắp phần thiếu hụt từ việc hạn chế vận chuyển hàng hóa qua Trung Quốc trong thời gian diễn ra dịch bệnh.

Quang Anh

Link gốc bài viết: http://vlr.vn/trong-nuoc/doanh-nghiep-logistics-viet-anh-huong-the-nao-tu-dich-covid-19-5842.vlr

Tin khác cùng danh mục

Tin khác ngoài danh mục

Khó khăn của ngành dịch vụ logistics
Bốc xếp hàng hóa container tại cảng Hải Phòng. (Ảnh: CTV/Vietnam+)

Thị trường logistics của Việt Nam nhiều tiềm năng nhưng rất phân tán. Chính vì vậy, để tạo sức bật cho lĩnh vực này cần có những chính sách hấp dẫn, thu hút sự đầu tư của cộng đồng doanh nghiệp.

Đây cũng là nội dung chính tại Hội thảo: "Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics" do Báo Công Thương phối hợp với Cục Xuất nhập khẩu - Bộ Công Thương) và Bộ Giao thông vận tải tổ chức sáng nay (28/4), tại Hà Nội.

Chi phí logistics còn cao

Theo số liệu từ Hiệp hội Doanh nghiệp logistics Việt Nam, hiện 90% các doanh nghiệp logistics đang hoạt động là doanh nghiệp Việt Nam, nhưng lại chỉ chiếm khoảng 30% thị phần, còn lại thuộc về các doanh nghiệp nước ngoài.

Đáng chú ý, số lượng doanh nghiệp nhiều nhưng chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ, quy mô hạn chế cả về vốn và nhân lực cũng như kinh nghiệm hoạt động quốc tế, chưa có sự liên kết giữa các khâu trong chuỗi cung ứng logistics và giữa doanh nghiệp dịch vụ logistics với doanh nghiệp xuất nhập khẩu.

Chính vì vậy, ở cả chiều mua và bán, doanh nghiệp logistics trong nước đều bị hạn chế về “sân chơi.”

[Phát triển logistics: Doanh nghiệp cần ứng dụng công nghệ 4.0]

Không những vậy, số lượng doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics tích hợp (3PL: cung cấp dịch vụ logistics bên thứ ba hay logistics theo hợp đồng) và 4PL (cung cấp dịch vụ logistics thứ tư hay logistics chuỗi phân phối) tại Việt Nam còn hạn chế.

Tỷ trọng các doanh nghiệp 3PL, 4PL mới chỉ chiếm 16% tổng số doanh nghiệp trong ngành logistics (báo cáo logistics Việt Nam 2019), tuy nhiên, miếng bánh này lại nằm chủ yếu trong tay các doanh nghiệp nước ngoài.

Vì vậy, theo đại diện các doanh nghiệp, Việt Nam có chi phí logistics cao hơn nhiều so với các nước trên thế giới. Điều này tạo rào cản cho năng lực cạnh tranh trên thị trường củaViệt Nam.

Trong nhiều khó khăn, vướng mắc, theo ông Trương Tấn Lộc, Giám đốc Marketing Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn, giá nhiên liệu tăng đột biến trong năm 2022 (tăng khoảng 33% so với giá trung bình 2021) ảnh hưởng đến chi phí của doanh nghiệp.

Hơn nữa, về thủ tục của các cơ quan hữu quan còn chưa tạo điều kiện thuận lợi như việc kiểm soát hàng quá cảnh qua các cửa khẩu, gây khó khăn cho các hãng tàu, khách hàng...

Đơn cử, tỷ lệ kiểm hóa tăng cao, thời gian kiểm hóa lâu phát sinh phí lưu cont cho khách hàng, chậm giao nguyên liệu vào sản xuất. Một số mặt hàng là quá cảnh nhưng chịu qui trình thủ tục như hàng xuất nhập khẩu và thị trường nội địa như: giấy phép con về kiểm dịch, giấy phép con xin quota, ... đặc biệt thời gian dịch bệnh quy trình xử lý thủ tục còn rườm rà.

Khó khăn của ngành dịch vụ logistics
Các đại biểu tham dự Hội thảo: Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics. (Ảnh: Đức Duy/Vietnam+)

Ngoài ra, hệ thống giao thông đường bộ phát triển chưa đồng bộ, triển khai chưa đúng tiến độ, như chưa khép kín vành đai 2, xây dựng vành đai 3, 4, tuyến đường cao tốc Đồng Nai-Vũng Tàu, kết nối các khu công nghiệp, các tỉnh với hệ thống cảng biển.

Còn theo bà Phạm Thị Lan Hương, đại diện Công ty Vinafco, trong mảng 3PL, hầu hết các doanh nghiệp logistics hàng đầu thế giới đã có mặt tại Việt Nam và chiếm tỷ trọng lớn về doanh thu so với các doanh nghiệp nội địa (doanh nghiệp ngoại chiếm 75% thị phần còn lại 25% là của doanh nghiệp Việt Nam).

Với thực tế này, cũng đặt ra nhiều thách thức cho doanh nghiệp việt Nam về cạnh tranh, chất lượng dịch vụ và cả ứng dụng công nghệ thông tin cũng như nguồn nhân lực.

Kết nối để nâng cao năng lực cạnh tranh

Với vị trí địa lý đặc biệt, dịch vụ logistics được xác định là một ngành quan trọng trong cơ cấu tổng thể nền kinh tế quốc dân, đóng vai trò hỗ trợ, kết nối và thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của cả nước cũng như từng địa phương, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Theo Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân, Chính phủ Việt Nam cũng đã xác định logistics là một ngành dịch vụ quan trọng trong cơ cấu tổng thể nền kinh tế quốc dân, đóng vai trò hỗ trợ, kết nối và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của cả nước cũng như từng địa phương, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Khó khăn của ngành dịch vụ logistics
Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân phát biểu tại hội thảo. (Ảnh: Đức Duy/Vietnam+)

Tại Quyết định số 221/QĐ-TTg ngày 22/2/2021 của Thủ tướng Chính phủ đã đặt mục tiêu đến năm 2025, tỷ trọng đóng góp của dịch vụ logistics vào GDP đạt 5%-6%, tốc độ tăng trưởng dịch vụ logistics đạt 15%-20%, tỷ lệ thuê ngoài dịch vụ logistics đạt 50%-60%, chi phí logistics giảm xuống tương đương 16%-20% GDP, xếp hạng theo chỉ số LPI trên thế giới đạt thứ 50 trở lên...

“Quyết định 221 cũng đặt ra 6 nhóm nhiệm vụ chính mà các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội cần thực hiện để đạt được mục tiêu nêu trên. Trong đó, nâng cao năng lực doanh nghiệp và chất lượng dịch vụ là 1 trong 6 nhóm nhiệm vụ chính mà Thủ tướng Chính phủ đã đặt ra,” Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân nêu rõ.

Để tạo ra nhiều đột phá, theo đại diện Công ty cổ phần KARGO 365, chuyển đổi số sẽ giúp các doanh nghiệp khai thác tối đa nguồn lực, mở rộng thị trường, tiết kiệm chi phí, tăng thêm năng lực ứng phó với các khủng hoảng, biến cố của thị trường.

Hơn nữa, chuyển đổi số giúp xóa đi khoảng cách giữa các bộ phận trong một doanh nghiệp vì khi áp dụng chuyển đổi số, doanh nghiệp đã tạo ra một nền tảng kết nối được tất cả các bộ phận trong doanh nghiệp. Từ đó nâng cao năng suất lao động của nhân viên, cũng như nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, phục vụ khách hàng tốt hơn.

Tại hội thảo, các ý kiến của hiệp hội và doanh nghiệp cũng cho rằng, trong thời gian tới, ngành logistics cần xây dựng và phát triển đội ngũ nhân lực logistics chất lượng cao có đầy đủ kiến thức, kỹ năng đáp ứng được yêu cầu công việc, phù hợp với nhu cầu thực tiễn, đặc biệt là trong môi trường làm việc quốc tế.

Các đơn vị phảităng cường ứng dụng công nghệ thông tin, hiện đại hóa phương thức quản lý và vận hành, sử dụng hệ thống phần mềm, nền tảng tối ưu hóa logistics nhằm cắt giảm chi phí logistics, nâng cao chất lượng, hiệu quả cung cấp dịch vụ. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh hoạt động liên doanh, liên kết giữa các nhà cung cấp dịch vụ logistics với nhau và với doanh nghiệp sản xuất, xuất nhập khẩu nhằm tạo lợi thế cạnh tranh và cải thiện năng lực cung cấp dịch vụ logistics.

Đặc biệt, phát huy tính năng động, sáng tạo của doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập; xây dựng giải pháp, chiến lược trước mắt và lâu dài nhằm nâng cao năng lực nội tại của doanh nghiệp, khả năng chống chịu, thích ứng với những biến đổi nhanh chóng của thị trường, quyết tâm mở rộng phạm vi kinh doanh ra các thị trường bên ngoài Việt Nam./

Xuân Quảng (Vietnam+)